Tin Quốc Phòng

Đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng môn học GDQP&AN

ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN HỌC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG – AN NINH
(Đại tá Nguyễn Văn Bình, Phó Giám đốc trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh)
 
Đảng và Nhà nước ta xác định, chiến lược phát triển kinh tế biển phải gắn liền với bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Vì mục tiêu này, hơn 30 năm qua, Trường Đại học Hàng hải Việt nam đã phối hợp với Bộ Tham mưu Hải quân trong cử, quản lý, sử dụng đội ngũ sĩ quan biệt phái Hải quân sang thực hiện nhiệm vụ giảng dạy môn học Giáo dục Quốc phòng - An ninh (GDQP-AN) tại trường. Những năm gần đây, Trung tâm đã tích cực đổi mới toàn diện để nâng cao chất lượng công tác giáo dục QP-AN cho sinh viên của các trường được phân công giảng dạy.
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam là một trong 46 trường thuộc Hiệp hội các trường Đại học Hàng hải quốc tế và là Trường đại học trọng điểm quốc gia. Trải qua 61 năm kể từ ngày thành lập (01/04/1956), Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã khẳng định là một trung tâm uy tín, chất lượng cao trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực hàng hải, kinh tế biển, đóng tàu của cả nước, khu vực và Quốc tế. Để nâng tầm thương hiệu, xứng tầm đại học trọng điểm quốc gia đạt đẳng cấp quốc tế.
Với đặc điểm là một trường bán quân sự, có nhiều ngành nghề gần với quốc phòng - an ninh, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã trở thành trung tâm cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu cho ngành kinh tế vận tải biển và cung cấp nguồn nhân lực cho Quân chủng Hải quân, Biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư. Vì vậy, công tác GDQP - AN luôn được Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường coi trọng, xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Qua đó, tạo điều kiện cho sinh viên nâng cao tri thức tổng hợp, rèn luyện bản lĩnh chính trị, kỹ năng quân sự để sẵn sàng thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN nói chung và phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển nói riêng.
Với mục tiêu đó, Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh Trường Đại học Hàng hải Việt Nam được thành lập ngày 10/07/2015 theo quyết định số 2481/QĐ-BGTVT của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, trên sơ sở Khoa Giáo dục quốc phòng trực thuộc Trường Đại học Hàng hải Việt Nam được thành lập tháng 05/1982 gồm các sĩ quan biệt phái thuộc Bộ Tham mưu Hải quân. Trung tâm có nhiệm vụ; Giáo dục QP-AN cho sinh viên Trường đại học hàng hải Việt Nam, sinh viên các cở sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên và cơ quan, tổ chức, cơ sở đào tạo khác được liên kết; Tổ chức và phối hợp tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ, viên chức nhà trường; Tổ chức nghiên cứu, tham ra biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu về giáo dục quốc phòng và an ninh cho các đối tượng; tổ chức kiểm tra đánh giá kiết quả học tập, cấp chứng chỉ môn học giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên, cấp giấy chứng nhận bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho các đối tượng khác và là cơ quan tham mưu cho Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường về công tác quốc phòng, quân sự địa phương.
Để hoàn thành mục tiêu đề ra, Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường và Đảng ủy, Thủ trưởng Bộ Tham mưu Hải quân luôn chú trọng công tác tuyển chọn, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh. 100% các giảng viên được đào tạo cơ bản trong các nhà trường, học viện quân đội và được tham gia tập huấn hàng năm về nội dung, chương trình giáo dục QP-AN do Bộ Giáo dục - Đào tạo tổ chức. Các giảng viên của Trung tâm đều có trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm vững vàng, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy và quản lý sinh viên.
Cũng với sự quan tâm của Bộ Giao thông vận tải, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Bộ Tham mưu Hải quân, Bộ chỉ huy quân sự TP Hải Phòng, Trung tâm Giáo dục QP - AN được trang bị, cung cấp đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị vũ khí để bảo đảm công tác giảng dạy.
Hàng năm, Trung tâm Giáo dục quốc phòng - an ninh luôn tích cực chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch giảng dạy môn học Giáo dục QP-AN cho các ngành, bậc học hợp lý, khoa học. Trung tâm luôn chú trọng theo dõi, quản lý tổ chức triển khai việc truyền tải các kiến thức, kỹ năng quân sự đến toàn bộ sinh viên là cơ sở để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.
Từ năm học 2013-2014, thực hiện đổi mới theo chương trình chung của Bộ Giáo dục - Đào tạo và Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Trung tâm Giáo dục quốc phòng - an ninh bắt đầu thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện môn học Giáo dục QP - AN. Trong đó, Trung tâm xác định cần đổi mới tư duy, nhận thức của cán bộ, giảng viên; công tác quản lý và chương trình giáo dục đào tạo.
Theo đó, cán bộ, giảng viên của trung tâm nâng cao nhận thức về vai trò, vị thế của Trường, xác định Trường là nơi cung cấp dịch vụ đào tạo chất lượng cao, phải thỏa mãn mọi nhu cầu của người sử dụng dịch vụ, cụ thể là sinh viên. Trong công tác quản lý, Trung tâm áp dụng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 với ưu điểm dễ lấy, dễ thấy, dễ tìm. Thực hiện đổi mới chương trình, Phòng Đào tạo và quản lý sinh viên cùng với 2 khoa chuyên môn của Trung tâm là Đường lối quân sự của Đảng và kỹ thuật, chiến thuật với tất cả 25 chuyên đề, Trung tâm đưa thêm 4 chuyên đề vào giảng dạy, trong đó có chuyên đề về chủ quyền biển đảo Việt Nam; chuyên đề tìm hiểu về vũ khí của lực lượng Hải quân; tìm hiểu về tổ chức Hải quân nhân dân Việt Nam; đồng thời, sinh viên được tìm hiểu, học tập, nghiên cứu tại Bảo tàng Hải quân. Trong chuyên đề về chủ quyền biển, đảo Việt Nam, tài liệu “Một số vấn đề về chủ quyền biển, đảo Việt Nam”.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, Trung tâm đặt ra tiêu chí, đối với giảng viên phải giỏi 1 học phần, khá 2 học phần và biết tất cả các học phần; đối với chuyên viên phải thành thạo công việc, có tính chuyên nghiệp cao. Đặc biệt, phương pháp giảng dạy được đổi mới cơ bản, từ phương pháp dạy học truyền thống chuyển sang phương pháp dạy học tích cực, lấy người học là trung tâm trong giảng dạy. Các giảng viên của Trung tâm tích cực áp dụng thiết bị công nghệ vào bài giảng, giáo án điện tử, nêu vấn đề gợi mở để sinh viên trao đổi; có phòng chuyên dùng và sân huấn luyện thực hành. Hình thức kiểm tra, thi, đánh giá kết quả cũng thay đổi. Kết thúc mỗi học phần, Trung tâm áp dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan, sau 1 tuần thi là có điểm, sau 2 tuần điểm thi sẽ được công khai trên trang mạng của Trường, sau 3 tuần hoàn thiện hồ sơ cấp chứng chỉ, sau 4 tuần thực hiện cấp chứng chỉ cho sinh viên.
Với sự đổi mới đó, Trung tâm có thể đánh giá chính xác, khách quan kết quả học tập và nhận thức của sinh viên. Trong năm học 2016-2017, Trung tâm đã giảng dạy cho 102 nhóm với trên 8.000 lượt sinh viên với kết quả 90,7% đạt yêu cầu trở lên, trong đó có 68,6% khá, giỏi.
Có thể thấy, Trung tâm Giáo dục quốc phòng - an ninh thực hiện đổi mới toàn diện với mục đích nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, trang bị kiến thức cơ bản về đường lối quân sự, công tác QP-AN của Đảng và Nhà nước; những kỹ năng quân sự, an ninh cần thiết cho sinh viên nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, củng cố LLVTND, thực hiện nghĩa vụ quân sự, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Thành tích của Trung tâm Giáo dục quốc phòng - an ninh đã được Trường Đại học Hàng hải Việt Nam và Bộ Tham mưu Hải quân đánh giá cao. Nhiều năm liên tục,  Trung tâm được bình bầu là Tập thể lao động xuất sắc; Chi bộ Trung tâm đạt TSVM. Nhiều cán bộ, giảng viên của Trung tâm bình bầu là Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và được đề nghị cấp trên biểu dương khen thưởng. Năm học 2015 - 2016 tập thể Trung tâm và cá nhân đồng chí Đại tá Nguyễn Văn Bình được Bộ trưởng Bộ GTVT tặng Bằng khen.
Nhìn vào kết quả đó, ít ai biết, để bảo đảm chất lượng giảng dạy với yêu cầu ngày càng cao, thời gian qua, Trung tâm Giáo dục QP-AN đã phải nỗ lực rất nhiều để vượt qua các khó khăn, bất cập. Do qui mô đào tạo của các Trường Đại học, cao đẳng liên kết ngày càng mở rộng, số lượng sinh viên đông, nhận thức của sinh viên trong nhóm khác nhau nên công tác quản lý lớp học và áp dụng phương pháp dạy học tích cực gặp không ít khó khăn. Trung tâm chưa có hệ thống thao trường chuyên dùng, khu học tập riêng cho nội dung thực hành nên phần nào đã ảnh hưởng đến kết quả công tác huấn luyện cho sinh viên.
Để chất lượng công tác giáo dục QP-AN cho sinh viên đạt kết quả cao, trong những năm tiếp theo, Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường và Trung tâm xác định:
Một là: Tiếp tục quán triệt sâu sắc chỉ thị số 12-CT/TW của Bộ chính trị về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục QP-AN trong tình hình mới. Nghị định 116/2007/NĐ-CP của Chính phủ về Giáo dục QP-AN, Nghị quyết Trung ương số 28-NQ/TW (Khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nhằm nâng cao nhận thức cho mọi người về vị trí, vai trò của công tác giáo dục QP-AN trong giai đoạn hiện nay.
Hai là: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, thao trường bãi tập đáp ứng yêu cầu giảng dạy môn học GDQP-AN.
Ba là: Triển khai sớm đề án xây dựng Trung tâm Giáo dục QP-AN tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam theo Quyết định số 161/QĐ-Ttg ngày 30/1/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qui hoạch hệ thống Trung tâm Giáo dục QP-AN giai đoạn 2015-2020; Quyết định số 2481/QĐ-BGTVT ngày 10/7/2015 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải về việc thành lập Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và an ninh (gọi tắt là Trung tâm GDQP) trực thuộc Trường Đại học Đại học Hàng hải VN. bảo đảm sớm đưa sinh viên vào học tập, rèn luyện tập trung tại Trung tâm Giáo dục QP-AN.
Bốn là: Tăng cường sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy đảng các cấp đối với công tác giáo dục QP-AN. Đội ngũ giảng viên của Trung tâm mặc dù đã được đào tạo cơ bản trong các nhà trường, học viện quân đội, có trình độ chuyên môn vững vàng; nhưng Trung tâm vẫn tích cực chăm lo công tác bồi dưỡng xây dựng đội ngũ giảng viên có chất lượng cao 100% có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, chứng chỉ tin học văn phòng, phương pháp biên soạn giáo án điện tử để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ giáo dục QP-AN cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay.
Năm là: Thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục QP-AN. Bởi nhận thức chung của các sinh viên thường cho rằng môn học giáo dục QP-AN khô khan nên chưa thực sự đam mê hứng thú trong học tập. Do vậy, trong từng bài giảng, mỗi tiết học cần phải linh hoạt về phương pháp dạy học, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, giữa phương pháp truyền thống với phương pháp tiên tiến, thường xuyên cập nhật thông tin và ứng dụng CNTT vào giảng dạy, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng môn học Giáo dục QP-AN, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam.
 
 
 
 
Phân loại: 

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác GDQP&AN trong tình hình mới

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Những năm qua, công tác giáo dục quốc phòng và an ninh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Tuy nhiên, yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới đòi hỏi các cấp, các ngành, địa phương cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh, thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác quan trọng này.

Thiếu tướng Nguyễn Duy Nguyên kiểm tra công tác huấn luyện của dân quân biển Phú Quốc. (Ảnh: qdnd.vn)
Kết quả nổi bật là, cấp ủy, chính quyền các cấp đã quán triệt sâu sắc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh, nhất là Chỉ thị 12-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng – an ninh trong tình hình mới”, Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, Nghị định 13/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, v.v. Trên cơ sở đó, cơ quan quân sự, công an với vai trò làm nòng cốt đã tích cực phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội triển khai thực hiện với nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp. Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh từ Trung ương đến cấp xã thường xuyên được củng cố, kiện toàn, hoạt động có nền nếp, hiệu quả; cơ quan thường trực hội đồng các cấp đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện đồng bộ công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trên phạm vi cả nước.
Trong nhiệm kỳ vừa qua, cả nước đã cơ bản hoàn thành chỉ tiêu bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho số cán bộ là cấp ủy, hội đồng nhân dân các cấp và cán bộ, đảng viên các đối tượng theo đúng kế hoạch, nội dung, chương trình đề ra, với hình thức, phương pháp tổ chức linh hoạt, sáng tạo. Từ năm 2013 đến nay, toàn quốc đã tổ chức bồi dưỡng được hơn 8.500 khóa, cho gần 886.000 cán bộ, đảng viên thuộc các đối tượng và chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo, già làng, trưởng các họ tộc, v.v. Đặc biệt, năm 2015, Cơ quan Thường trực Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương đã phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho 102 vị chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khóa VIII) và đại diện lãnh đạo một số tổ chức tôn giáo có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh, đạt kết quả tốt.
Công tác giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên ở các cấp học từ trung học phổ thông đến đại học trên cả nước đi vào nền nếp, chất lượng, hiệu quả được nâng cao. Hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên đang hoạt động đã phát huy tốt vai trò, chủ động xây dựng kế hoạch, mở hội nghị liên kết với các trường theo phân luồng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổ chức giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên đạt kết quả tốt, trang bị cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, nâng cao nhận thức, xác định rõ hơn nghĩa vụ, trách nhiệm trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân được các địa phương quan tâm đẩy mạnh và thu được kết quả tích cực. Các cơ quan báo, đài phát thanh và truyền hình Trung ương, địa phương đều tăng chuyên trang, chuyên mục, thời lượng phát sóng chương trình quốc phòng, an ninh, nhằm tuyên truyền các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước về quốc phòng, an ninh; âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, v.v. Các địa phương thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, chú trọng tuyên truyền về quốc phòng, an ninh cho người dân ở các xã khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa trọng điểm.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, công tác giáo dục quốc phòng và an ninh vẫn còn một số hạn chế. Đó là, tiến độ xây dựng một số văn bản, hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh còn chậm, thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Việc cử cán bộ các đối tượng đi bồi dưỡng, nhất là đối tượng 2 ở một số bộ, ngành Trung ương còn hạn chế, tỷ lệ còn thấp so với kế hoạch. Công tác đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng và an ninh triển khai còn chậm; chất lượng dạy – học môn học ở một số cơ sở giáo dục chưa cao, kỹ năng thực hành của học sinh, sinh viên có nội dung chưa đáp ứng yêu cầu đề ra. Việc triển khai xây dựng các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh theo Quyết định 161/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ chưa bảo đảm tiến độ, v.v.
Trong những năm tới, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta rất nặng nề, đan xen thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn. Theo đó, công tác giáo dục quốc phòng và an ninh có những nội dung mới, yêu cầu mới rất cao, đòi hỏi các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở cần thực hiện đồng bộ các giải pháp; trong đó, tập trung vào những trọng tâm sau:
1. Tiếp tục quán triệt, thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh. Trước hết, cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp tiếp tục quán triệt Chỉ thị 12-CT/TW của Bộ Chính trị, Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, tổ chức các lớp nghiên cứu, quán triệt tập trung kết hợp với lồng ghép trong các đợt sinh hoạt của các tổ chức đoàn thể. Đối với công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân, chủ động kết hợp nhiều hình thức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi, để các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến được mọi đối tượng. Căn cứ Quyết định 1911/QĐ-TTg, ngày 18-10-2013 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, cơ quan chức năng của các bộ, ngành có liên quan sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện. Đồng thời, bám sát đối tượng để có nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và toàn dân đối với công tác này, tạo cơ sở để thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu quả.
2. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, vai trò của các ban, ngành, đoàn thể; thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp. Công tác giáo dục quốc phòng và an ninh phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy, sự quản lý, điều hành của chính quyền và người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cấp ủy, chính quyền, hội đồng giáo dục quốc phòng, an ninh các cấp. Thực hiện tốt cơ chế này không chỉ thiết thực nâng cao chất lượng công tác giáo dục quốc phòng và an ninh mà còn góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc gắn với thế trận an ninh nhân dân. Do đó, trong quá trình tổ chức thực hiện, cần đảm bảo chặt chẽ, lấy kết quả thực hiện công tác này là một tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo, quản lý của tổ chức đảng, chính quyền và cán bộ chủ trì các cấp. Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp, các ban, ngành, đoàn thể, nhất là cơ quan quân sự, công an thường xuyên phối hợp chặt chẽ, phát huy vai trò, trách nhiệm, chủ động tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp, các địa phương cần thường xuyên củng cố, kiện toàn đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, đảm bảo chất lượng, nhất là đối với hội đồng cấp huyện và cấp xã. Đồng thời, thường xuyên xây dựng, bổ sung quy chế, chương trình, kế hoạch hoạt động sát với tình hình thực tiễn; chú trọng đổi mới nội dung, phương pháp, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, đánh giá đúng thực tế, không chạy theo thành tích. Thông qua kiểm tra, kịp thời biểu dương, khen thưởng, nhân rộng những nhân tố điển hình tiên tiến trong giáo dục quốc phòng và an ninh; có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, giải quyết dứt điểm vướng mắc, bất cập nảy sinh trong quá trình thực hiện.
3. Đẩy mạnh đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh. Các bộ, ngành Trung ương, địa phương tập trung thực hiện tốt việc rà soát, nắm chắc số lượng cán bộ, đảng viên thuộc diện phải bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh sau Đại hội Đảng các cấp. Trên cơ sở đó, chủ động xây dựng kế hoạch, phấn đấu đến hết nhiệm kỳ, tất cả số cán bộ, đảng viên theo quy định đều được bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh; trong đó, chú trọng đối tượng 2 và các đối tượng khác được quy định trong Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh. Cùng với đó, các địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân. Nội dung tuyên truyền, phổ biến bảo đảm phong phú, hình thức đa dạng, phương pháp linh hoạt, phù hợp với vùng, miền, để đồng bào dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Cùng với nâng cao chất lượng tuyên truyền, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân trên các phương tiện thông tin đại chúng, các địa phương cần coi trọng hình thức tuyên truyền miệng, tuyên truyền bằng tiếng dân tộc thiểu số, nhất là đối với đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo.
Để nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên, các bộ, ngành liên quan cần phối hợp, đẩy nhanh thực hiện Đề án “Đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh cho các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và các cơ sở giáo dục đại học đến năm 2020” theo Quyết định 607/QĐ-TTg, ngày 24-4-2014 của Thủ tướng Chính phủ. Phấn đấu đến năm 2020, bảo đảm đào tạo đáp ứng được 90% nhu cầu giáo viên và 70% nhu cầu giảng viên của môn học này ở các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và các cơ sở giáo dục đại học. Đồng thời, quán triệt, thực hiện có hiệu quả Thông tư liên tịch 123/2015/TTLT-BQP-BGDĐT-BLĐTBXH, ngày 05-11-2015 quy định tổ chức, hoạt động của trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, liên kết giáo dục quốc phòng và an ninh của các trường cao đẳng, cơ sở giáo dục đại học; thường xuyên đổi mới phương pháp dạy – học môn học giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên theo hướng tích cực, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
4. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh đã được phê duyệt, coi trọng bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ dạy – học. Trên cơ sở Quyết định 161/QĐ-TTg, ngày 30-01-2015 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt quy hoạch hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh giai đoạn 2015 – 2020 và những năm tiếp theo”, các cơ quan chức năng cần chủ động bảo đảm kinh phí, ngân sách để mua sắm đầy đủ các trang thiết bị dạy – học; củng cố cơ sở vật chất, phòng học chuyên dùng, thao trường, bãi tập, đáp ứng yêu cầu môn học. Đồng thời, đầu tư hoàn thiện, phát huy hiệu quả hoạt động của các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh hiện có cho sinh viên; đầu tư xây mới các trung tâm thuộc các học viện, nhà trường trong Quân đội và các cơ sở giáo dục đại học đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhằm thu hút từ 80% – 90% số sinh viên được tuyển hằng năm và học sinh trên địa bàn vào học tập, rèn luyện tại các trung tâm. Mặt khác, tiến hành sửa đổi, bổ sung nội dung, chương trình sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu phù hợp với sự phát triển, đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng môn học giáo dục quốc phòng và an ninh.
Thiếu tướng NGUYỄN DUY NGUYÊN, Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ – Ủy viên Ban Thường trực, Trưởng Ban Thư ký Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương.
Nguồn: Tạp chí quốc phòng toàn dân
 
Phân loại: 

Tăng cường liên kết, nâng cao chất lượng GDQP&AN

TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Thời gian qua, các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh (GDQPAN) trong cả nước đã phát huy tốt vai trò, chức năng, góp phần giáo dục cho sinh viên lòng yêu nước, niềm tự hào và sự trân trọng đối với truyền thống của dân tộc; trang bị kiến thức cơ bản về QPAN và những kỹ năng quân sự cần thiết để sinh viên nhận thức đầy đủ hơn quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nơi rèn luyện và hình thành nhân cách
Đề cập về công tác GDQPAN cho học sinh, sinh viên, Trung tướng Nguyễn Duy Nguyên, Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ (Bộ Tổng tham mưu), Trưởng ban Thư ký Hội đồng GDQPAN Trung ương cho hay: “Giáo dục QPAN cho sinh viên là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, là môn học chính khóa ở các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác quốc phòng của Đảng. Thông qua giáo dục nhằm bồi dưỡng kiến thức QPAN, khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn của dân tộc cho sinh viên. Do đó, việc tổ chức hoạt động của trung tâm GDQPAN, liên kết GDQPAN với các trường đại học, cao đẳng có ý nghĩa hết sức quan trọng và thiết thực trong giai đoạn hiện nay”.
Theo đánh giá của Hội đồng GDQPAN Trung ương và khảo sát ở một số trung tâm GDQPAN, chúng tôi nhận thấy, những năm qua, mặt công tác này được các cơ quan, đơn vị đã quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nghị định của Chính phủ, thường xuyên bám sát sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo để xây dựng nội dung chương trình, đề cương môn học đúng quy định, sát tình hình thực tiễn. Ngoài việc được trang bị các kiến thức, kỹ năng quân sự, sinh viên còn được rèn luyện, trải nghiệm trong môi trường quân đội. Đây là điều kiện, cơ sở quan trọng để sinh viên hình thành nhân cách, tính tổ chức, tính tập thể, tính kỷ luật, bảo đảm phát triển toàn diện.
Khắc phục tâm lý cho rằng môn học GDQPAN là khô khan, nhàm chán, trong quá trình giảng dạy, Trung tâm GDQPAN Hà Nội 1 luôn chú trọng kết hợp giữa lý thuyết với thực hành, gắn lý luận với thực tiễn. Trung tâm chỉ đạo Phòng Đào tạo và các khoa giáo viên chú trọng tăng thời gian huấn luyện thực hành và tổ chức các hoạt động bổ trợ, ngoại khóa, khắc phục tình trạng giảng dạy lý luận chung chung, dàn trải. Theo đó, đội ngũ giảng viên nghiên cứu kỹ đối tượng, chuyên ngành đào tạo của sinh viên để biên soạn giáo án, chuẩn bị bài giảng cho phù hợp, sát đối tượng giảng dạy. Bài giảng luôn bảo đảm cập nhật thông tin, có minh họa bằng tranh, ảnh, video về hoạt động quân sự, QPAN…

Một giờ học lý thuyết Giáo dục quốc phòng và an ninh của các sinh viên
Tăng cường liên kết giữa trung tâm với các trường
Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm GDQPAN thuộc Trường Đại học Hải Phòng đã tổ chức 108 đợt GDQPAN cho hơn 120.000 lượt học sinh, sinh viên. Chất lượng giáo dục của trung tâm được các nhà trường đánh giá cao. Đạt được kết quả trên là do trung tâm luôn coi trọng việc phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của Quân khu 3 rà soát, kiện toàn đội ngũ cán bộ, hoàn thiện tổ chức, biên chế; đẩy mạnh đầu tư, xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ chính trị. Tuy nhiên, lưu lượng sinh viên về học tập tại trung tâm phụ thuộc vào số lượng sinh viên của Trường Đại học Hải Phòng và các trường liên kết. Vì vậy, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, trung tâm luôn coi trọng giải quyết tốt việc kết hợp với các trường liên kết trong chuẩn bị, tổ chức GDQPAN cho sinh viên. Hằng năm, trung tâm chủ động liên hệ với các trường liên kết nắm kết quả tuyển sinh, trên cơ sở đó tiến hành xây dựng kế hoạch năm học, kế hoạch học tập từng đợt, kế hoạch giảng dạy, các hoạt động bổ trợ, công tác quản lý sinh viên. Cùng với đó, trung tâm duy trì tổ chức hội nghị liên kết GDQPAN nhằm chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời khắc phục những mặt còn hạn chế trong tổ chức, chỉ đạo, quản lý dạy học và bảo đảm. Cách làm này đã phát huy hiệu quả, tăng sự gắn kết giữa trung tâm với các trường hướng vào thực hiện tốt môn học.
Là trung tâm GDQPAN lớn của khu vực trung du miền núi phía Bắc, những năm qua, Trung tâm GDQPAN Đại học Thái Nguyên đã có nhiều biện pháp nâng cao chất lượng GDQPAN. Đảng ủy, chỉ huy trung tâm kịp thời đề ra các chủ trương, biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng, hiệu quả GDQPAN cho học sinh, sinh viên. Trong đó, chủ động hiệp đồng các nhà trường thống nhất nội dung, chương trình, thời gian, nắm vững đối tượng, điều kiện cơ sở vật chất, bãi tập… để xây dựng kế hoạch giảng dạy khoa học, hạn chế thấp nhất những sai sót. Những năm trước đây, trung tâm tiếp nhận sinh viên năm thứ nhất, do các em chưa được chuẩn bị về tâm lý và còn bỡ ngỡ với môi trường học tập, rèn luyện, nên ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả cuối kỳ. Vì vậy, từ năm học 2016-2017, trung tâm chủ động tham mưu và hiệp đồng với các trường, tiếp nhận sinh viên học từ năm thứ hai, nên chất lượng dạy, học được nâng lên rõ rệt.
Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch và thành lập trung tâm
Mới đây, Ban Thường trực Hội đồng GDQPAN Trung ương tổ chức hội nghị đánh giá việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước; sự phối hợp trong chỉ đạo, quản lý, điều hành của các cơ quan chức năng về những vấn đề liên quan đến công tác GDQPAN. Theo đó, thời gian qua, các bộ, ngành, địa phương đã phối hợp chặt chẽ trong tổ chức thực hiện; công tác bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, giảng viên được quan tâm đầu tư, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tính đến nay, đã có 30 trung tâm GDQPAN được quy hoạch thành lập mới, trong đó 9 trung tâm đã có quyết định thành lập. Tuy nhiên, tại hội nghị, các đại biểu cũng thẳng thắn chỉ rõ một số hạn chế, như: Việc phân luồng liên kết giữa các trung tâm GDQPAN với các trường cao đẳng, cơ sở giáo dục đại học còn có khu vực, địa phương chưa hợp lý; một số nhà trường chưa thực hiện liên kết giáo dục quốc phòng; nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ chốt về công tác GDQPAN chưa toàn diện; các trung tâm đã có và các trung tâm mới được quy hoạch vẫn chưa có quyết định gây khó khăn trong đầu tư xây dựng và tổ chức thực hiện liên kết…
Theo Trung tướng Nguyễn Duy Nguyên, để khắc phục những hạn chế trên, thời gian tới, các trung tâm GDQPAN tiếp tục thực hiện nghiêm túc Quyết định số 161 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, các bộ chủ quản, Chủ tịch UBND các tỉnh sớm ban hành quyết định tổ chức lại và thành lập trung tâm GDQPAN theo thẩm quyền, nhà trường quân đội thành lập trung tâm GDQPAN theo quyết định của Bộ Quốc phòng để các trung tâm có đủ tư cách pháp lý, pháp nhân lập dự án đầu tư và đi vào hoạt động, cấp chứng chỉ môn học cho học sinh, sinh viên. Nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh việc liên kết đào tạo GDQPAN cho sinh viên phù hợp với điều kiện thực tế của từng trung tâm. Muốn đạt được mục tiêu đó, trước hết phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật về GDQPAN nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của các cơ quan, tổ chức và học sinh, sinh viên. Đồng thời, phát huy vai trò tham mưu, chỉ đạo của Hội đồng GDQPAN các cấp, thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức và địa phương, các trường cao đẳng, cơ sở giáo dục đại học trong thực hiện các quy định về GDQPAN…
Bài và ảnh: LÊ DUY HỒNG
Nguồn: Báo Quân đội nhân dân
 
Phân loại: 

Tăng cường GDQP&AN cho học sinh, sinh viên

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên là nội dung học tập đặc thù trong các nhà trường, nhằm nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm cho thế hệ trẻ đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong tình hình hiện nay, công tác này càng trở nên quan trọng, cấp thiết.
        Trước yêu cầu cao của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng, Nhà nước ta chủ trương tăng cường công tác giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng, thông qua việc ban hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, làm cơ sở triển khai tổ chức thực hiện thống nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trong đó, Chương II của Luật quy định rõ: giáo dục quốc phòng và an ninh trong trường tiểu học, trung học cơ sở được thực hiện lồng ghép thông qua nội dung các môn học trong chương trình; trong trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, cơ sở giáo dục đại học là môn học chính khóa. Đây là một bước tiến quan trọng về lập pháp, cơ sở để tổ chức triển khai hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, tạo nguồn nhân lực cho quốc phòng – an ninh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay.
         Quán triệt, triển khai Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, Quyết định 1911/QĐ-TTg, ngày 18-10-2013 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu, đề xuất với Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai ban soạn thảo đổi mới chương trình môn học, sách giáo khoa giáo dục quốc phòng và an ninh ở các cấp học: trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Theo đó, nội dung, chương trình đã được tăng cường kiến thức về bảo vệ chủ quyền biển đảo, biên giới quốc gia, kỹ năng quân sự phân cấp rõ ràng, tăng thời gian thực hành, v.v. Thông qua môn học, học sinh, sinh viên đã nhận thức đầy đủ hơn quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân của Đảng, có nhận thức rõ hơn về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; có kỹ năng quân sự cần thiết để phát triển nhân cách toàn diện, tự giác, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, vẫn còn những tồn tại, hạn chế do công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai ở một số địa phương, cơ quan, tổ chức chưa được coi trọng đúng mức. Đội ngũ giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh còn thiếu về số lượng, chất lượng chưa đáp ứng so với yêu cầu của môn học; cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập chưa đầy đủ; chất lượng môn học ở một số trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng, đại học còn hạn chế, v.v.
         Để tiếp tục nâng cao chất lượng công tác giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên, trong thời gian tới, các cơ sở giáo dục – đào tạo cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục về vị trí, vai trò của công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, trọng tâm là Chỉ thị 12-CT/TW, ngày 03-5-2007 của Bộ Chính trị về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng – an ninh trong tình hình mới”, Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh trong toàn ngành Giáo dục để thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động. Đồng thời, tập trung thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:
         Một là, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy của môn học phù hợp với sự phát triển của thực tiễn.Giáo dục quốc phòng và an ninh là môn học đặc thù, đã được luật hóa, có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan bám sát mục tiêu, yêu cầu môn học ở từng cấp học, trình độ đào tạo, nghiên cứu, điều chỉnh nội dung, chương trình, đảm bảo tính liên thông, không trùng lặp, có sự phân cấp rõ ràng, phù hợp với ngành nghề đào tạo của sinh viên. Trong đó, cần bổ sung thêm một số nội dung phần lịch sử Việt Nam cận đại, những bài học lịch sử, gương hy sinh anh dũng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc thể hiện tinh thần, ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta. Đồng thời, cung cấp cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, kiến thức về Luật Biển Việt Nam, Công ước liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và một số điều ước, v.v. Đối với nội dung thuộc về kỹ năng quân sự, cần được đổi mới theo hướng quy định từng nội dung huấn luyện cụ thể cho từng cấp học, gắn với vị trí, chức vụ nhất định trong Quân đội nhằm tránh sự trùng lặp. Mặt khác, do tính chất đặc thù của môn học nên việc xây dựng chương trình, nội dung, thời gian phải phù hợp với sự phát triển của khoa học nghệ thuật quân sự, tiến trình hiện đại hóa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong tình hình mới. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an ban hành chương trình khung về giáo dục quốc phòng và an ninh, thường xuyên điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với quá trình phát triển; đồng thời, quy định nội dung, hình thức tổ chức thực hiện môn học từ bậc tiểu học đến đại học. Chương trình trước đây chủ yếu đi sâu về kỹ thuật, chiến thuật chiến đấu bộ binh; do đó, để phù hợp điều kiện chiến tranh hiện đại, chương trình mới cần được xây dựng theo phân nhóm các chuyên ngành, lĩnh vực đào tạo, như: kỹ thuật, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn,… tương ứng với lĩnh vực, chuyên môn hoạt động của các quân chủng, binh chủng và binh chủng hợp thành trong Quân đội, nhằm phát huy năng lực, tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn người học.
         Đổi mới, có phương pháp giảng dạy khoa học sẽ giúp học sinh, sinh viên hăng say học tập, bộc lộ tài năng quân sự, làm cơ sở phát hiện, tuyển chọn, tạo nguồn nhân lực cho xây dựng lực lượng vũ trang, coi trọng đổi mới phương pháp giảng dạy môn học, đặc biệt chú ý đến những nội dung hoạt động đặc thù của lĩnh vực quân sự; giảm thời gian dạy lý thuyết, tăng thời gian học thực hành kỹ năng quân sự, kết hợp với tham quan thực tế tại các đơn vị sẵn sàng chiến đấu của quân chủng, binh chủng gắn với ngành học của học sinh, sinh viên. Qua đó, giúp học sinh, sinh viên trưởng thành toàn diện, tự tin, có kỹ năng quân sự, an ninh cần thiết, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
         Hai là, xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh đảm bảo số lượng, chất lượng.Để xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu môn học, thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các quyết định phê duyệt Đề án đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh1. Phấn đấu đến năm 2020, bảo đảm đào tạo đáp ứng được 90% nhu cầu giáo viên và 70% nhu cầu giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh giảng dạy ở các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và các cơ sở giáo dục đại học. Thực hiện mục tiêu này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã mở mã ngành đào tạo cử nhân giáo dục quốc phòng và an ninh, kết hợp chiêu sinh, cử tuyển đào tạo văn bằng 2; đồng thời, lựa chọn, giao chỉ tiêu đào tạo cho các sở giáo dục và đào tạo có đủ điều kiện. Để thu hút thí sinh đăng ký tuyển sinh đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan đề xuất bảo đảm chế độ, tiêu chuẩn như học viên đào tạo sĩ quan; khi ra trường được xét phong quân hàm sĩ quan dự bị, ưu tiên tuyển dụng, v.v. Về lâu dài, để đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh yên tâm, gắn bó với công việc, cần có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp, trước mắt thực hiện Thông tư liên tịch 15/2015/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BQP-BCA-BNV-BTC, ngày 16-7-2015 của liên Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Lao động – Thương binh và Xã hội, Quốc phòng, Công an, Nội vụ, Tài chính về quy định chế độ, chính sách đối với cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh. Cùng với đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Quốc phòng nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ tăng cường sĩ quan biệt phái cho các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, trường đại học, cao đẳng còn thiếu cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
         Ba là, chú trọng bảo đảm ngân sách, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên. Căn cứ Quyết định 1911/QĐ-TTg, ngày 18-10-2013 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Quốc phòng đẩy nhanh việc ban hành Thông tư quy định danh mục thiết bị dạy học và bộ mẫu thiết bị tối thiểu môn học giáo dục quốc phòng và an ninh của các trường trung học phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học (thay thế Thông tư 33/2009/TT-BGDĐT, ngày 13-11-2009), để làm cơ sở triển khai thực hiện thống nhất. Mặt khác, giáo dục quốc phòng và an ninh là môn học có tính đặc thù, đòi hỏi phải có hệ thống phòng học, giảng đường chuyên dùng, thao trường, bãi tập, trường bắn phù hợp và đầy đủ giáo trình, tài liệu, quân trang cho sinh viên, v.v. Do đó, các bộ, ngành chức năng cần quan tâm, tích cực phối hợp bảo đảm ngân sách kịp thời. Các nhà trường và cơ sở giáo dục chủ động khai thác nguồn ngân sách trên cấp và huy động các nguồn kinh phí xã hội hóa để đầu tư mua sắm cơ sở vật chất, các trang thiết bị dạy học, nâng cấp giảng đường, thao trường, đáp ứng yêu cầu của môn học. Cùng với đó, sớm triển khai thực hiện Thông báo 97/TB-VPCP, ngày 06-3-2014 của Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan đề xuất không thu học phí môn học và tiền ăn của sinh viên trong quá trình học tập tập trung.
         Để nâng cao chất lượng môn học, giúp học sinh, sinh viên tiếp cận với các loại vũ khí, khí tài sát thực tế chiến đấu, rèn luyện bản lĩnh, ý chí, thành thạo kỹ năng quân sự, thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Quốc phòng thống nhất nghiên cứu, đề xuất cải hoán các loại vũ khí, khí tài cấp 5 đã qua sử dụng để từng bước trang bị cho các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên; qua đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thiếu tướng, TS, NGND. NGUYỄN THIỆN MINH
Vụ trưởng Vụ Giáo dục Quốc phòng – Bộ Giáo dục và Đào tạo
___________________

1 – Quyết định 472/QĐ-TTg, ngày 12-4-2010 về phê duyệt Đề án “Đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng – an ninh cho các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề giai đoạn 2010 – 2016”; Quyết định 607/QĐ-TTg, ngày 24-4-2014 về phê duyệt Đề án “Đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh cho các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề và các cơ sở giáo dục đại học đến năm 2020”.
Nguồn: Tạp chí quốc phòng toàn dân
 
Phân loại: 

Phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của các Trung tâm GDQP&AN

PHÁT HUY VAI TRÒ, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Những năm qua, công tác giáo dục quốc phòng và an ninh tại các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh đã khẳng định được vai trò của mình bằng chất lượng, hiệu quả hoạt động. Điều đó góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trong tình hình mới.
Hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh (sau đây gọi tắt là trung tâm) được thành lập theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ1. Đến nay, cả nước theo qui hoạch có 62 trung tâm (42 trung tâm thuộc nhà trường quân đội, 20 trung tâm thuộc cơ sở giáo dục đại học); trong đó 30 trung tâm thuộc trường quân sự các quân khu, trường quân sự tỉnh, thành phố và các cơ sở giáo dục đại học đã đi vào hoạt động. Trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, các trung tâm đã quán triệt, cụ thể hóa Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nghị định của Chính phủ về giáo dục quốc phòng và an ninh sát với tình hình thực tiễn; đồng thời, tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, chủ động khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và sự thiếu hụt đội ngũ giảng viên. Hằng năm, các trung tâm đã tiến hành giáo dục quốc phòng và an ninh cho khoảng 28 vạn đến 32 vạn sinh viên (chiếm trên 35% tổng số sinh viên); bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho khoảng 3,5 vạn cán bộ, công chức, viên chức quản lý (đối tượng 2, đối tượng 3). Việc tổ chức giáo dục quốc phòng và an ninh tại các trung tâm đã khắc phục được tình trạng huấn luyện riêng lẻ, khép kín trong từng cơ sở giáo dục đại học; bảo đảm cho sinh viên được học tập, rèn luyện gắn liền với môi trường quân đội, cùng các loại vũ khí, khí tài quân sự và hệ thống thao trường, bãi tập sát thực tế; đồng thời, thống nhất được nội dung, chương trình giảng dạy, phát huy kỹ năng, kinh nghiệm huấn luyện quân sự của đội ngũ giáo viên, giảng viên là cán bộ quân đội.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên đội ngũ cán bộ, giáo viên của các trung tâm còn thiếu, kiến thức toàn diện về quốc phòng, an ninh cũng như phương pháp, kỹ năng sư phạm, trình độ chưa đạt chuẩn theo quy định của Luật Giáo dục. Việc quy định tổ chức, hoạt động của các trung tâm chưa đồng bộ, thống nhất; đầu tư xây dựng một số trung tâm chưa bảo đảm tiến độ; hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, thao trường, bãi tập còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu đặc thù của môn học. Cùng với đó, nhận thức của một bộ phận cán bộ, giáo viên, sinh viên về vị trí, vai trò của môn học chưa đầy đủ,… nên công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh ở các trung tâm vẫn còn những hạn chế, bất cập.
Để tiếp tục phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của các trung tâm, theo chúng tôi, cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tăng cường quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác giáo dục quốc phòng và an ninh. Chất lượng, kết quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh phụ thuộc rất lớn vào nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức ở các trung tâm và cơ sở giáo dục đại học. Vì vậy, các trung tâm cần tăng cường quán triệt các văn bản, chỉ thị của Đảng, Chính phủ về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, trọng tâm là Chỉ thị 12-CT/TW, ngày 03-5-2007 (khóa X) của Bộ Chính trị “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng – an ninh trong tình hình mới”; Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh,… làm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức nhận thức đúng vị trí, tầm quan trọng của công tác này. Đồng thời, chú trọng bồi dưỡng, cập nhật kịp thời những kiến thức, thông tin mới về nhiệm vụ quốc phòng – an ninh hiện nay. Qua đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm trong tổ chức thực hiện gắn với chức trách, nhiệm vụ được giao, tích cực đổi mới tư duy trong tổ chức giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh với hình thức, biện pháp sáng tạo, hiệu quả; khắc phục dứt điểm tình trạng khoán trắng cho các khoa, bộ môn và biểu hiện xem nhẹ môn học của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, giáo viên và sinh viên. Các trung tâm cần tăng cường các hoạt động ngoại khóa để củng cố kiến thức, giáo dục truyền thống đấu tranh của dân tộc, giúp người học nhận thức đúng đắn trách nhiệm, nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, kiện toàn cơ cấu tổ chức, biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên của các trung tâm. Trên cơ sở Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, Quyết định 161/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư liên tịch 123/2015/TTLT-BQP-BGDĐT-BLĐTBXH,  ngày 05-11-2015 của Bộ trưởng các Bộ: Quốc phòng, Giáo dục và Đào tạo, Lao động – Thương binh và Xã hội về “Quy định tổ chức, hoạt động của trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh; liên kết giáo dục quốc phòng và an ninh của các trường cao đẳng, cơ sở giáo dục đại học”, các cơ quan chức năng cần tiếp tục phối hợp, đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện cơ cấu tổ chức, biên chế đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên ở các trung tâm đã được phê duyệt theo quy mô, lưu lượng sinh viên trong khu vực đảm nhiệm; chú trọng phát triển đội ngũ giáo viên cơ hữu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng trung tâm. Các trung tâm cần tích cực phối hợp với cơ quan chức năng sớm hoàn thiện tư cách pháp nhân để có đủ điều kiện cấp chứng chỉ giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên và cấp chứng nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng.
Để đội ngũ cán bộ, giáo viên có trình độ đạt chuẩn theo quy định của Luật Giáo dục, các trung tâm cần chủ động xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên cả trước mắt và lâu dài theo hướng “chuẩn hóa, trẻ hóa”, đảm bảo cân đối về cơ cấu độ tuổi, trình độ học vấn và kinh nghiệm giảng dạy, có sự kế thừa, vững chắc. Trước mắt, các trung tâm chủ động rà soát, có kế hoạch cử đi đào tạo một số ngành đối với các giáo viên còn thiếu tiêu chí đạt chuẩn, thay thế giáo viên kiêm nhiệm. Với các trung tâm do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, cần tạo nguồn tuyển mới đội ngũ cán bộ, giáo viên để dần thay thế đội ngũ sĩ quan biệt phái. Cùng với đó, các bộ, ngành chức năng cần phối hợp, hoàn thiện nội dung, chương trình, tăng chỉ tiêu, nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh trình độ đại học, bổ sung cho các trung tâm và các trường. Cùng với tuyển chọn, kiểm soát chất lượng nguồn đầu vào và đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, các trung tâm căn cứ vào tình hình thực tiễn, đặc thù hoạt động của mình để xây dựng hệ thống kỹ năng sư phạm cần thiết; tăng cường bồi dưỡng, tập huấn, hoạt động phương pháp, dự giờ, bình giảng, hội giảng để đội ngũ cán bộ, giáo viên học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy. Mặt khác, các trung tâm chủ động liên kết với các khoa, bộ môn của nhà trường trực thuộc hoặc các trường đại học, cao đẳng trong khu vực để tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng sư phạm, tin học, ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ, giáo viên.
Ba là, quan tâm đầu tư, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các trung tâm, bảo đảm cơ sở vật chất, từng bước hiện đại hóa trang thiết bị dạy học. Hiện tại, các trung tâm thuộc nhà trường Quân đội có thuận lợi là sử dụng hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, vật liệu nổ quân dụng, thao trường, bãi tập, trường bắn của đơn vị chủ quản, trong khi phần lớn số trung tâm còn lại khó khăn về vấn đề này nên thường phải liên kết, phối hợp với các đơn vị Quân đội trên địa bàn để huấn luyện thực hành. Theo lộ trình đến năm 2020, cả nước sẽ thành lập đủ các trung tâm, đảm bảo đáp ứng nhu cầu giáo dục quốc phòng và an ninh cho khoảng 01 triệu sinh viên (đạt 90% tổng số sinh viên đại học, cao đẳng); bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho trên 90% cán bộ đối tượng 2 và đối tượng 3. Để thực hiện mục tiêu này, các cơ quan chức năng cần bảo đảm kịp thời ngân sách, kinh phí, đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện các trung tâm, nhất là hệ thống giảng đường, thao trường, bãi tập; từng bước hiện đại hóa các trang thiết bị dạy học. Bên cạnh nguồn ngân sách của Nhà nước, các trung tâm cần chủ động khai thác, huy động các nguồn lực khác để củng cố, nâng cấp thao trường, bãi tập; đầu tư mua sắm cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; đồng thời, chú trọng bảo đảm giáo trình, tài liệu theo đúng quy định.
Bốn là, thực hiện có hiệu quả Thông tư liên tịch 123/2015/TTLT-BQP-BGDĐT-BLĐTBXH, nâng cao chất lượngliên kết giáo dục quốc phòng và an ninh giữa các trung tâm với các trường cao đẳng, đại học. Đây là hoạt động đặc thù của các trung tâm, vừa bảo đảm chất lượng đào tạo, vừa thuận lợi cho công tác quản lý, rèn luyện sinh viên tập trung theo nếp sống chính quy trong môi trường quân đội. Ngay từ năm thứ nhất, sinh viên đã được trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về quân sự, tạo hứng thú cho người học, nâng cao ý thức về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cho thế hệ trẻ. Để nâng cao chất lượng liên kết giáo dục quốc phòng và an ninh, các trung tâm cần tích cực, chủ động phối hợp chặt chẽ với các trường liên kết. Hằng năm, trước khi vào năm học, các trung tâm cần tổ chức hội nghị liên kết đào tạo giáo dục quốc phòng và an ninh để nghe ý kiến của các trường liên kết đánh giá chất lượng giáo dục – đào tạo của năm trước; thống nhất nội dung, chương trình, thời gian liên kết năm học tới; nắm phản hồi của sinh viên sau khi được học tập, rèn luyện tại trung tâm. Đối với các trường liên kết, cần cung cấp đầy đủ, thường xuyên danh sách sinh viên các khóa học, trình độ đào tạo, cùng tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục quốc phòng và an ninh cho mỗi khóa. Trên cơ sở đó, các trung tâm xây dựng kế hoạch năm học, xác định rõ thời gian cho từng trường và gửi kế hoạch, nội quy để các trường phổ biến, quán triệt cho sinh viên, nhất là thời gian, quy chế, quy định trước khi về các trung tâm học tập. Ngoài ra, các trung tâm còn phải phối hợp với các trường liên kết nắm trình độ, nhận thức của sinh viên theo chuyên ngành đào tạo để có phương pháp giảng dạy, quản lý phù hợp, hiệu quả với từng chuyên ngành; thường xuyên trao đổi kết quả học tập, rèn luyện của từng sinh viên; tổ chức chặt chẽ việc giao, nhận sinh viên và giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh trong khóa học.
Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ, đảng viên là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta và là nội dung quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Vì vậy, cần phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh để nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Đại tá LÊ THANH TRÌ, Trung tá LÊ MINH ĐẠT
_______________

1 – Quyết định 638/QĐ-TTg, ngày 21-5-2009 về “Phê duyệt Đề án thành lập trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh tại các nhà trường quân đội giai đoạn 2009 – 2015 và những năm tiếp theo”; Quyết định 412/QĐ-TTg, ngày 10-4-2012 về “Phê duyệt Quy hoạch hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng – an ninh sinh viên giai đoạn 2011 – 2015”; Quyết định 161/QĐ-TTg, ngày 30-01-2015 về “Phê duyệt Quy hoạch hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh giai đoạn 2015 – 2020 và những năm tiếp theo”.
Nguồn: Tạp chí Quốc phòng toàn dân
 
Phân loại: 

Nửa thế kỷ giáo dục quốc phòng học sinh, sinh viên

NỬA THẾ KỶ GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HỌC SINH, SINH VIÊN
Tin an ninh quốc phòng
          Ngày 28/12/1961 Hội đồng chính phủ (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 219/CP về việc huấn luyện quân sự cho quân nhân dự bị và dân quân tự vệ, trong đó quy định: “Trong các trường đại học và các trường chuyên nghiệp trung cấp, việc học tập quân sự phải đặt thành một môn học chính. Sinh viên các trường đại học được huấn luyện theo chương trình đào tạo sĩ quan, học sinh các trường chuyên nghiệp trung cấp được huấn luyện theo chương trình đào tạo hạ sĩ quan”. Theo đó, môn học Huấn luyện quân sự phổ thông qua những chặng đường phát triển thành môn học Giáo dục quốc phòng và Giáo dục quốc phòng – an ninh trong hệ thống giáo dục quốc dân, đến nay vừa tròn nửa thế kỷ.
             I. Những kết quả đạt được
            1. Việc học tập quân sự (Huấn luyện quân sự phổ thông) trước đây – nay là giáo dục quốc phòng – an ninh cho học sinh, sinh viên trong những năm đất nước có chiến tranh, đã góp phần bồi dưỡng kiến thức quân sự, rút ngắn thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh chống Mĩ cứu nước và chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc.
               Khi đất nước hoà bình lớp lớp thanh niên, sinh viên tình nguyện đến những nơi khó khăn, gian khổ cùng sát vai với bộ đội và nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị – xã hội của đất nước. Trong hội nhập nền kinh tế thế giới đội ngũ trí thức trẻ đang làm chủ khoa học kỹ thuật luôn ý thức nhiệm vụ xây dựng đất nước phải gắn liền với bảo vệ Tổ quốc.
             Ngoài việc nâng cao dân trí về quốc phòng, GDQP-AN góp phần giáo dục chính trị, tư tưởng sâu sắc cho học sinh, sinh viên trong phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, xây dựng ý thức trách nhiệm của mỗi công dân đối với Tổ quốc; giáo dục lòng tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc, xây dựng ý thức tổ chức kỉ luật, coi trọng nếp sống tập thể, cùng với các hoạt động khác góp phần đẩy lùi tiêu cực và tệ nạn xã hội.
           2. Qua mỗi giai đoạn cách mạng và sự phát triển của giáo dục đào tạo chương trình GDQP-AN cho học sinh, sinh viên đã được đổi mới nhiều lần cả nội dung và hình thức giảng dạy. Năm 1991, chuyển đổi chương trình từ Huấn luyện quân sự phổ thông sang môn học giáo dục quốc phòng đã có sự thay đổi cơ bản nội dung cho phù hợp với giáo dục thời bình, theo hướng tăng cường tri thức về quốc phòng-quân sự, giảm bớt thực hành kỹ năng.
              Đến năm 2007 thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh trong tình hình mới và Nghị định số 116/2007/NĐ-CP của Chính phủ về GDQP-AN, môn học giáo dục quốc phòng được chính thức đổi tên thành môn học GDQP-AN (kiến thức giáo dục an ninh được lồng ghép trong giáo dục quốc phòng). Môn học đã được khẳng định trong nhóm các môn học chung của trình độ đào tạo đại học, chuyên nghiệp và dạy nghề; trong chương trình văn hoá của các trường trung học phổ thông.
            Việc đánh giá kết quả học tập đã được thực hiện theo quy chế chung của các cấp học và quy chế môn học GDQP-AN. Sinh viên ĐH, CĐ kết thúc môn học có đủ điểm theo quy định được cấp chứng chỉ GDQP-AN, là một trong những điều kiện xét cấp bằng tốt nghiệp. Học sinh trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề và trung học phổ thông kết quả học tập được tính điểm trung bình chung như các môn học khác.
           3. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học giáo dục quốc phòng trước đây chủ yếu phụ thuộc vào sự phối hợp giúp đỡ của các cơ quan quân sự địa phương, đơn vị quân đội. Khi thay đổi chương trình, đã có sự đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và đầu tư xây dựng hệ thống trung tâm GDQP-AN sinh viên.
          Danh mục thiết bị môn học GDQP-AN được ban hành và tổ chức thực hiện. Các trường từ THPT đến ĐH,CĐ cơ bản có đủ thiết bị dạy học, sách giáo khoa và giáo trình GDQP-AN đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của giáo viên và học tập của học sinh, sinh viên.
            Có cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên GDQP-AN chuyên trách nên đã có 86% trường THPT trong cả nước thực hiện học theo phân phối chương trình, các trường khác xen kẽ giữa học tập trung và phân phối chương trình theo tiết/tuần.
            Các trường TCCN, ĐH,CĐ tự bảo đảm giảng dạy tại trường hoặc liên kết giảng dạy theo phần luồng của Bộ GD&ĐT. Hệ thống trung tâm GDQP-AN sinh viên đã được đầu tư xây dựng giai đoạn 1 đang phát triển giai đoạn 2 với mục tiêu đáp ứng 70% sinh viên vào học tập, rèn luyện tập trung tại trung tâm. Nhiều khoa giáo dục quốc phòng và trung tâm GDQP-AN sinh viên đã tích cực nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả học tập. Chất lượng giáo dục môn học vì thế  ngày càng được nâng cao, tăng cường tri thức quốc phòng, an ninh cho đội ngũ cán bộ trẻ.
          4. Đội ngũ giáo viên GDQP-AN luôn luôn đóng vai trò quyết định trong đổi mới và nâng cao chất lượng môn học. Từ năm 2001 Bộ GD&ĐT đã tổ chức đào tạo giáo viên giáo dục quốc phòng ngắn hạn và dài hạn tại các trường đại học và liên kết ở địa phương. Theo đó, các trường đã bước đầu tự chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên trong biên chế cơ hữu và thực hiện hợp đồng, thỉnh giảng.
         Để đáp ứng từng bước chuẩn hóa đội ngũ giáo viên GDQP-AN cả số lượng và chất lượng, đáp ứng quy mô GDQP-AN cho học sinh, sinh viên ngày càng tăng, năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án đào tạo giáo viên chuyên ngành GDQP-AN cho các trường THPT và TCCN, trung cấp nghề. Bộ GD&ĐT đang mở rộng đề án này để phát triển đội ngũ giáo viên GDQP-AN cho các trường ĐH,CĐ và trung tâm GDQP-AN sinh viên.
           Đội ngũ giảng viên sĩ quan do Bộ Quốc phòng biệt phái ra các trường ĐH, đang từng bước được kiện toàn về tổ chức và chất lượng. Sự phối hợp có hiệu quả của Bộ Quốc phòng với Bộ GD&ĐT đã hình thành trong nhiều năm đội ngũ giảng viên sĩ quan biệt phái thực sự làm nòng cốt giảng dạy GDQP-AN và quản lý chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, với chức năng của cơ quan chuyên môn và quản lý trung tâm GDQP-AN sinh viên.
           5. Hệ thống văn bản pháp quy về GDQP-AN cho học sinh, sinh viên đã được hoàn thiện trên các lĩnh vực, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với nhiệm vụ giáo dục cho thế hệ trẻ học sinh, sinh viên.
          Đặc biệt, từ năm 2001 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII ban hành Chỉ thị số 62-CT/TW và năm 2007 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, cho thấy tầm quan trọng, vị trí, yêu cầu GDQP-AN toàn dân, trong đó có nhiệm vụ GDQP-AN cho học sinh, sinh viên.
           Thành quả GDQP-AN cho học sinh, sinh viên trong nửa thế kỷ qua là rất lớn; môn học có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, có ý nghĩa đặc biệt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, GDQP-AN cho học sinh, sinh viên còn có những hạn chế cần được khắc phục nhanh chóng.
          II. Những hạn chế
          Chuyển biến về nhận thức ở một số cán bộ quản lý và một bộ phận học sinh, sinh viên còn chậm so với yêu cầu mục tiêu môn học và nhiệm vụ GDQP-AN trong tình hình mới. Xem nhẹ và tìm cách thanh toán môn học có ở một số trường và một bộ phận học sinh, sinh viên. Những suy nghĩ đơn giản về môn học đã dẫn đến tổ chức thực hiện tùy tiện nhiệm vụ GDQP-AN, tính toán hiệu quả kinh tế, chỉ thấy lợi ích trước mắt chưa thấy lợi ích chung và lâu dài. Vì vậy có trường không coi GDQP-AN là môn học mà cho rằng đó là nhiệm vụ quốc phòng, thuộc Bộ Quốc phòng.
           Tạo nguồn, xây dựng đội ngũ giáo viên chuyên trách, có đủ năng lực thực hiện giảng dạy ở tất cả các cấp học còn chậm và không đồng bộ. Nhiều trường hiện nay thiếu giáo viên trầm trọng, dẫn đến liên kết giảng dạy không đúng đối tượng, trình độ, không kiểm soát được chương trình.
          10 năm quy hoạch và xây dựng hệ thống trung tâm GDQP-AN sinh viên (2001-2010) với chỉ tiêu đưa 70% sinh viên tuyển mới vào học GDQP-AN trong trung tâm nhưng đến nay mới đạt 45% quy mô sinh viên năm thứ nhất; trong đó sinh viên thực tế được học tập, rèn luyện tại trung tâm chỉ chiếm 30% (bằng tỷ lệ được xác định năm 2005).
           Như vậy, tốc độ xây dựng trung tâm quá chậm; tổ chức biên chế giảng viên của trung tâm đến nay vẫn chưa có, việc luân chuyển, bổ sung giảng viên sĩ quan biệt phái và tạo nguồn giảng viên đến nay không đáp ứng nhu cầu tối thiểu. Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan trong đó việc đầu tư kinh phí nhỏ giọt, hạn chế; quy mô sinh viên tăng nhanh, đội ngũ giảng viên thiếu trầm trọng trong nhiều năm nay chưa được tập trung giải quyết.
           III. Cơ hội và giải pháp
           Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã chỉ ra phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, là cơ hội thuận lợi nhất đổi mới GDQP-AN cho học sinh, sinh viên, gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục đào tạo với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, sự nhiệp CNH, HĐH đất nước trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.
           Đảng và Nhà nước đang chủ trương “luật hóa” nhiệm vụ GDQP-AN. Theo kế hoạch đến năm 2014 Quốc hội khóa XIII sẽ thông qua Luật GDQP-AN. Đây là những điều kiện cơ bản, có tính pháp lý cao đối với môn học và nhiệm vụ GDQP-AN cho học sinh, sinh viên. Để thực hiện đúng, đủ mục tiêu, yêu cầu môn học GDQP-AN, gắn kết chặt chẽ trong chương trình giáo dục đào tạo của các cấp học, trình độ đào tạo các cơ quan quản lý, chỉ đạo, các đơn vị, nhà trường cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau đây:
          Một là, phát triển đội ngũ giáo viên GDQP-AN, xây dựng cơ chế chính sách sử dụng đội ngũ giáo viên phù hợp với quyền tự chủ của các trường
          Để thực hiện giải pháp này cán bộ, lãnh đạo, quản lý trong ngành giáo dục đào tạo và các đơn vị phối hợp cần tăng cường nhận thức về nhiệm vụ GDQP-AN; quán triệt sâu sắc Chỉ thị Chỉ thị số 12-CT/TW của Bộ Chính trị; kiện toàn đội ngũ giáo viên GDQP-AN chuẩn về kiến thức, thành thạo kỹ năng và có đủ số lượng với quy mô học sinh, sinh viên ngày càng tăng.
           Tập trung chỉ đạo quyết liệt để thực hiện tốt Quyết định số  472 /QĐ-TTg ngày 12/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Đào tạo giáo viên GDQP-AN cho các trường THPT, TCCN và trung cấp nghề giai đoạn 2010 – 2016”. Mở rộng đề án phát triển đội ngũ giảng viên GDQP-AN cho các trường ĐH,CĐ. Hoàn thiện tổ chức biên chế đội ngũ giảng viên sĩ quan biệt phái, tiếp tục làm nòng cốt giảng dạy tại trung tâm GDQP-AN sinh viên và các trường đại học. Gắn kết chặt chẽ công tác quản lý giảng viên sĩ quan biệt phái giữa các cơ sở giáo dục đại học với học viện, nhà trường quân đội. Tạo hành lang cơ chế, chính sách sử dụng đội ngũ giáo viên, giảng viên GDQP-AN đã được đào tạo cơ bản.
          Hai là, đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí cho môn học và phát triển trung tâm GDQP-AN sinh viên
          Đầu tư mạnh cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để ứng dụng rộng rãi công nghệ tin học trong giáo dục, đổi mới phương pháp giảng dạy GDQP-AN. Có chính sách hợp lý và hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp quốc phòng sản xuất các thiết bị chuyên dụng, tạo cơ chế thích hợp trong tổ chức mua sắm giữa nhà sản xuất và đơn vị sử dụng.
           Tạo nguồn vốn hợp pháp để hoàn thiện giai đoạn 2 phát triển hệ thống trung tâm GDQP-AN sinh viên đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Gắn kết chặt chẽ hệ thống trung tâm GDQP-AN do Bộ GD&ĐT quản lý với hệ thống trung tâm do Bộ Quốc phòng quản lý, để đến năm 2015 có 70% sinh viên được phân luồng vào học tập, rèn luyện tại trung tâm. Xây dựng trung tâm GDQP-AN thành môi trường văn hóa – quân sự; từng bước thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học quân sự, đào tạo sĩ quan dự bị, đào tạo giảng viên GDQP-AN.
           Ba là, đổi mới cơ chế quản lý chỉ đạo, điều hành; đổi mới chương trình và phương pháp GDQP-AN
           Tăng cường năng lực và đổi mới công tác quản lý của các cơ quan chủ quản và cơ quan phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ GDQP-AN. Cải cách hành chính mạnh mẽ trong công tác quốc phòng, an ninh, tránh tình trạng chồng chéo trong công tác quản lý, chỉ đạo; gắn bó mật thiết, chặt chẽ môn học đặc thù (môn học được luật hóa) với việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo trong thời gian tới.
           Sửa đổi chương trình GDQP-AN các cấp học và trình độ đào tạo trên cơ sở bổ sung kiến thức giáo dục đào tạo trong thời kỳ hội nhập và thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tăng thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, sinh viên; kết hợp mở rộng đào tạo trực tuyến, giáo dục trực tuyến với các phương pháp dạy học tích cực khác để góp phần thực hiện tốt mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực tiên tiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Phân loại: 

​Thế giới bất ổn, vũ khí "lên ngôi"

Thế giới bất ổn, vũ khí "lên ngôi"
ANTD.VN (Báo an ninh Thủ đô) - Tổng giá trị buôn bán vũ khí trên toàn cầu lần đầu tiên gia tăng lên sau 5 năm trong bối cảnh những bất ổn, điểm nóng xung đột gia tăng nhiều nơi trên thế giới.

Những chiếc máy bay chiến đấu tàng hình hiện đại F-35 được Mỹ điều động để sẵn sàng can thiệp vào điểm nóng trên bán đảo Triều Tiên
Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (SIRRI) của Thụy Điển ngày 10-12 đã công bố báo cáo mới nhất cho thấy, buôn bán vũ khí trên toàn cầu năm 2016 đã lần đầu tiên tăng từ năm 2010. Theo đó, tổng lượng vũ khí bán ra trong năm 2016 lên tới 374,8 tỷ USD, tăng 1,9% so với lượng vũ khí bán ra trên toàn thế giới trong năm 2015.
Mỹ tiếp tục duy trì vị trí “quán quân” xuất khẩu vũ khí của thế giới khi bán ra số vũ khí trang bị tổng trị giá 217,2 tỷ USD, chiếm tới 58% tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí toàn cầu. Số vũ khí mà Mỹ bán ra trong năm 2016 tăng 4% so với năm 2015, tức cao hơn nhiều so với mức tăng trung bình 1,9% của thế giới.
Tập đoàn Lockheed Martin có trụ sở tại Mỹ cũng là công ty xuất khẩu vũ khí lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 10,7% tổng lượng vũ khí buôn bán trên toàn cầu. Một trong những vũ khí khiến Lockheed Martin trở thành tập đoàn sản xuất vũ khí lớn nhất thế giới là loại máy bay chiến đấu tàng hình đa năng F-35 đắt đỏ - có giá tới hơn 100 triệu USD mỗi chiếc, chưa kể các chi phí như đào tạo, bảo dưỡng, trang thiết bị đi kèm… được bán cho những đồng minh thân cận nhất của Washington.
Hiện Mỹ đang cung cấp vũ khí và trang thiết bị quân sự cho khoảng 100 nước trên thế giới với các mặt hàng chủ yếu là máy bay chiến đấu hiện đại, các vũ khí có độ chính xác cao cũng như các hệ thống phòng không và chống tên lửa hiện đại thế hệ mới nhất. Trung Đông tiếp tục là thị trường xuất khẩu vũ khí lớn nhất của Mỹ, tiếp theo là châu Âu và châu Á.
Dù đứng ở vị trí thứ hai, nhưng Nga kém xa Mỹ về số lượng vũ khí xuất khẩu khi bán ra thị trường thế giới số lượng vũ khí trị giá 26,6 tỷ USD trong năm 2016, chiếm chưa tới 10% tổng lượng xuất khẩu vũ khí toàn cầu. Tuy nhiên, số vũ khí mà Nga xuất khẩu trong năm 2016 cũng tăng 3,8% so với năm 2015.
Đứng thứ ba toàn cầu về xuất khẩu vũ khí trong năm 2016, nhưng Trung Quốc đang trở thành một đối thủ cạnh tranh đáng gờm trên thị trường vũ khí thế giới bởi có ưu điểm nổi trội là giá thành rẻ và ngày càng tiệm cận trình độ hiện đại của Mỹ và Nga. Một số quốc gia khác như Ấn Độ, Brazil… hay Hàn Quốc vừa là những quốc gia nhập khẩu, đồng thời cũng là các nước xuất khẩu vũ khí.
Đáng chú ý, Hàn Quốc bên cạnh việc nhập các loại vũ khí hiện đại của Mỹ như các loại có độ chính xác cao, cũng đang là nước có tốc độ sản xuất vũ khí gia tăng nhanh bậc nhất thế giới. Hàn Quốc bán ra số vũ khí trị giá 8,4 tỷ USD trong năm 2016, tăng tới 20% so với 1 năm trước đó.
Nguyên nhân chính khiến Hàn Quốc “bùng nổ” sản xuất vũ khí, theo SIRRI, là do tình hình căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên. Việc Triều Tiên liên tục tiến hành thử hạt nhân và tên lửa đã buộc Hàn Quốc phải lao vào cuộc chạy đua vũ trang để đối phó.
Tương tự, xuất khẩu vũ khí gia tăng thời gian qua là do nhiều bất ổn và căng thẳng, tranh chấp gia tăng ở các điểm nóng trên thế giới. Ngoài Trung Đông, SIRRI cho rằng khu vực Biển Đông vài năm nay luôn ở trong tình trạng căng thẳng do những đòi hòi chủ quyền phi lý cùng những hành động gây hấn, hung hăng của Trung Quốc nhằm hiện thực hóa tham vọng đòi chủ quyền với 80% diện tích Biển Đông.
Các chuyên gia quân sự cho rằng thế giới càng bất ổn thì vũ khí càng bán chạy.
Hoàng Hà
Phân loại: 

Chỉ tiêu tuyển sinh năm 2017 - Trường ĐH Hàng hải Việt Nam

Năm 2017, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đăng ký thực hiện 02 hình thức xét tuyển phù hợp với ngành/chuyên ngành đào tạo, cụ thể như sau:

- MÃ TRƯỜNG: HHA

1. Xét tuyển dựa trên kết quả học tập và rèn luyện 03 năm học trung học phổ thông (THPT) của thí sinh với 20% chỉ tiêu các ngành:

      Tên chuyên ngành          Mã chuyên ngành              Chỉ tiêu         Tổ hợp xét tuyển    

  - Điều khiển tàu biển                           

 -  Khai thác máy tàu biển                       

 - Thiết kế tàu và công trình ngoài khơi                 

 - Đóng tàu và công trình ngoài khơi         

 - Máy và tự động hóa xếp dỡ                  

 - Kỹ thuật cầu đường  

52840106D101

52840106D102

52520122D107

52520122D107

52520103D109

52580205D113

35

30

10

10

10

10

A00 - Toán, Lý, Hóa

A01 - Toán, Lý, Anh

D01 - Toán, Văn, Anh

C01 - Toán, Văn, Lý

 

 

2. Xét tuyển dựa trên kết quả Kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia do Bộ GD&ĐT tổ chức. Cụ thể các ngành/chuyên ngành như sau

 

Ngành/chuyên ngành

Mã nhóm, Mã ngành/

chuyên ngành

Mã tổ hợp / Tổ hợp 03 môn để xét tuyển

Chỉ tiêu

CÁC NGÀNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

Nhóm 01: Kỹ thuật & Công nghệ

D01

 

 

1.     Ngành Khoa học Hàng hải

52840106

 

 

      + Chuyên ngành Điều khiển tàu biển

52840106D101

A00 - Toán, Lý, Hóa

A01 - Toán, Lý, Anh

D01 - Toán, Văn, Anh

C01 - Toán, Văn, Lý

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

A00 - Toán, Lý, Hóa

A01 - Toán, Lý, Anh

D01 - Toán, Văn, Anh

C01 - Toán, Văn, Lý

 

145

      + Chuyên ngành Khai thác máy tàu biển

52840106D102

105

2.    Ngành Kỹ thuật điện tử truyền thông

52520207

 

      + Chuyên ngành Điện tử viễn thông

52520207D104

90

3. Ngành Kỹ thuật điều khiển & Tự động hóa

52520216

 

      + Chuyên ngành Điện tự động tàu thủy

52520216D103

90

      + Chuyên ngành Điện tự động công nghiệp

52520216D105

90

      + Chuyên ngành Tự động hóa hệ thống điện

52520216D121

90

4. Ngành Kỹ thuật tàu thủy

52520122

 

+ Chuyên ngành Máy tàu thủy

52520122D106

90

+ Chuyên ngành Thiết kế tàu & công trình ngoài khơi

52520122D107

35

+ Chuyên ngành Đóng tàu và công trình ngoài khơi

52520122D108

35

5. Ngành Kỹ thuật cơ khí

52520103

 

+ Chuyên ngành Máy và tự động công nghiệp

52520103D128

45

+ Chuyên ngành Máy và tự động hóa xếp dỡ

52520103D109

35

+ Chuyên ngành Kỹ thuật cơ khí

52520103D116

90

+ Chuyên ngành Kỹ thuật cơ điện tử

52520103D117

45

+ Chuyên ngành Kỹ thuật Ô tô

52520103D122

45

+ Chuyên ngành Kỹ thuật nhiệt lạnh

52520103D123

45

6. Ngành Kỹ thuật công trình biển

52580203

 

+ Chuyên ngành Xây dựng công trình thủy

52580203D110

90

+ Chuyên ngành Kỹ thuật an toàn hàng hải

52580203D111

45

7. Ngành Kỹ thuật XD công trình giao thông

52580205

 

+ Chuyên ngành Kỹ thuật cầu đường

52580205D113

35

8. Ngành Công nghệ thông tin

52480201

 

+ Chuyên ngành Công nghệ thông tin

52480201D114

90

+ Chuyên ngành Công nghệ phần mềm

52480201D118

45

+ Chuyên ngành Kỹ thuật truyền thông và mạng máy tính

52480201D119

45

9. Ngành Kỹ thuật môi trường

52520320

 

+ Chuyên ngành Kỹ thuật môi trường

52520320D115

90

+ Chuyên ngành Kỹ thuật hóa dầu

52520320D126

45

10. Ngành Kỹ thuật công trình xây dựng

52580201

 

+ Chuyên ngành Xây dựng dân dụng và công nghiệp

52580201D112

90

+ Chuyên ngành Kiến trúc dân dụng và công nghiệp

52580201D127

H01 - Toán, Lý, Vẽ mỹ thuật

H02 - Toán, Hóa,Vẽ mỹ thuật

H03- Toán, Văn,Vẽ mỹ thuật

H04 - Toán, Anh, Vẽ mỹ thuật

(Vẽ mỹ thuật hệ số 2)

45

Nhóm 02: Kinh tế & Luật

D02

 

 

1. Ngành Kinh tế vận tải

52840104

 

 

+ Chuyên ngành Kinh tế vận tải biển

52840104D401

A00 - Toán, Lý, Hóa

A01 - Toán, Lý, Anh

D01 - Toán, Văn, Anh

C01 - Toán, Văn, Lý

135

+ Chuyên ngành Kinh tế vận tải thủy

52840104D410

45

+ Chuyên ngành Logistics và chuỗi cung ứng

52840104D407

135

2. Ngành Kinh doanh quốc tế

52340120

 

+ Chuyên ngành Kinh tế ngoại thương

52340120D402

135

3. Ngành Quản trị kinh doanh

52340101

 

+ Chuyên ngành Quản trị kinh doanh

52340101D403

90

+ Chuyên ngành Quản trị tài chính kế toán

52340101D404

135

+ Chuyên ngành Quản trị tài chính ngân hàng

52340101D411

45

4. Ngành Khoa học hàng hải

52840106

 

+ Chuyên ngành Luật hàng hải

52840106D120

90

Nhóm 03: Ngôn ngữ Anh

D03

 

 

1.    Ngành Ngôn ngữ Anh

52220201

 

 

+ Chuyên ngành Tiếng Anh thương mại

52220201D124

D01 - Toán, Văn, Anh

A01 - Toán, Lý, Anh

D10 - Toán, Địa, Anh

D14 - Văn, Sử, Anh

(Tiếng Anh hệ số 2)

60

+ Chuyên ngành Ngôn ngữ Anh

52220201D125

60

Nhóm 04:  Các chương trình chất lượng cao

D04

 

 

1.    Ngành Kinh tế vận tải

52840104

A00 - Toán, Lý, Hóa

A01 - Toán, Lý, Anh

D01 - Toán, Văn, Anh

C01 - Toán, Văn, Lý

 

+ Chuyên ngành Kinh tế vận tải biển

52840104H401

90

2. Ngành Kinh doanh quốc tế

52340120

 

+ Chuyên ngành Kinh tế ngoại thương

52340120H402

90

3. Ngành Kỹ thuật điều khiển & Tự động hóa

52520216

 

+ Chuyên ngành Điện tự động công nghiệp

52520216H105

45

4. Ngành Công nghệ thông tin

52480201

 

+ Chuyên ngành Công nghệ thông tin

52480201H114

45

Nhóm 05: Các chương trình tiên tiến

D05

A01 - Toán, Lý, Anh

D01 - Toán, Văn, Anh

D07 - Toán, Hóa, Anh

D15 - Văn, Địa, Anh

 

1. Ngành Kinh tế vận tải

52840104

 

+ Chuyên ngành Kinh tế Hàng hải

52840104A408

100

2. Ngành Kinh doanh quốc tế

52340120

 

+ Chuyên ngành Kinh doanh quốc tế & Logistics

52340120A409

80

3. Ngành Quản trị kinh doanh

52340101

 

+ Chuyên ngành Quản lý kinh doanh và Marketing

52340101A403

45

 

Quy định về Mã ngành: ký tự thứ 9 của mã ngành là:

    + là hệ đại trà;

    + là hệ đào tạo tiên tiến:chương trình nhập khẩu từ Học viện Hàng hải California, Hoa Kỳ, giảng dạy bằng Tiếng Anh; Cơ sở vật chất, giảng viên, phương pháp giảng dạy, môi trường học tập... theo tiêu chuẩn quốc tế;

    + H là hệ đào tạo chất lượng cao: giảng dạy và đánh giá định hướng quốc tế với giảng viên giỏi và 20% chương trình giảng dạy bằng Tiếng Anh

    + Ngoài ra Nhà trường còn có các Chương trình lớp chọn cho các ngành Điều khiển tàu biển và Khai thác máy tàu biển; Giảng dạy bằng Tiếng Anh; Miễn phí học nâng cao trình độ Tiếng Anh với giảng viên nước ngoài; Học phí tương đương với hệ đại trà.

- Đối với 02 ngành Điều khiển tàu biển và Khai thác máy tàu biển chỉ tuyển thí sinh NAM

Thông tin liên hệ: 

- Phòng Đào tạo, Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam.

Địa chỉ: số 484 Đường Lạch Tray, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng

 

http://facebook.com/daihochanghaivietnam

             

                    http://tuyensinh.vimaru.edu.vn                   

 

031-373138/3729690

 

Phân loại: 

Trung Quốc thừa nhận nội bộ còn tranh cãi về 'đường lưỡi bò'

 

Thượng tướng Võ Tiến Trung: "Nếu Trung Quốc tỉnh táo, họ sẽ phải điều chỉnh lại thái độ của mình". Ảnh: Văn Việt.

Thượng tướng Võ Tiến Trung: "Nếu Trung Quốc tỉnh táo, họ sẽ phải điều chỉnh lại thái độ của mình". Ảnh: Văn Việt.

Thượng tướng Võ Tiến Trung, nguyên giám đốc Học viện Quốc phòng, người vừa tham dự Đối thoại Shangri-La ở Singapore hồi cuối tuần, trao đổi với VnExpress về vấn đề Biển Đông tại diễn đàn an ninh lớn nhất châu Á này. 

- Đánh giá của thượng tướng về lập luận của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông tại Đối thoại Shangri-la?

- Trong phiên họp toàn thể thứ 4 với chủ đề "Những thách thức trong giải quyết xung đột", Đô đốc Tôn Kiến Quốc, trưởng đoàn Trung Quốc, đưa ra một tấm bản đồ cổ được cho là vẽ từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên, trong đó mô tả toàn bộ Biển Đông thuộc quyền quản lý của vương triều Trung Hoa thời đó. Trung Quốc lý giải rằng họ là người đầu tiên phát hiện ra Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam) và vẽ bản đồ.

Ông Tôn cũng ngang nhiên tuyên bố rằng từ đó tới nay nước này đã đưa quân, dân ra quản lý hai quần đảo. Lập luận sai trái của Trung Quốc lập tức gặp phải phản ứng mạnh từ các đoàn tham gia Đối thoại Shangri-la.

Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Manohar Parrika đặt câu hỏi, thời xưa, rất nhiều nước vẽ bản đồ. Nếu theo bản đồ cổ, thì nhiều nước trong khối ASEAN, một phần Ấn Độ, một nửa các nước Trung Á thuộc Liên Xô cũ đều thuộc quản lý của vương triều Trung Hoa, vậy hiện nay Trung Quốc có đòi chủ quyền với những lãnh thổ đó? Rồi thế kỷ 19, bản đồ Vương quốc Anh vẽ địa giới tới gần nửa thế giới, có một phần Trung Quốc ngày nay, ông Tôn suy nghĩ gì về bản đồ này?

Ông Tôn Kiến Quốc chỉ đáp Trung Quốc "tôn trọng bản đồ do nước Anh vẽ hiện nay". Điều này cho thấy Trung Quốc đã lúng túng, tự mâu thuẫn chính mình.

- Trung Quốc phát hành tờ rơi với nội dung sai trái cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của nước này. Vì sao Việt Nam không phản đối với hành động này của Trung Quốc ngay tại Hội nghị?

- Khi Đối thoại Shangri-la đang diễn ra, Trung Quốc đã phát tờ rơi khẳng định "đường lưỡi bò" trên Biển Đông là lãnh thổ Trung Quốc. Tuy nhiên, do những người phát tờ rơi mặc quần áo dân sự và không rõ là ai nên Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh không nêu điều này lúc phát biểu. Trung Quốc biết Việt Nam và các nước sẽ phản đối gay gắt nên đã tính toán để tuyên truyền theo cách phi chính thức.

Khi ông Tôn Kiến Quốc vừa kết thúc phần phát biểu, gần như phái đoàn của các nước tham gia đều đặt câu hỏi. Khi được hỏi Trung Quốc làm thế nào chứng minh Hoàng Sa thuộc chủ quyền nước này, ông Tôn không giải thích mà chỉ nói "Hoàng Sa là của Trung Quốc, không bàn cãi". 

- Trung Quốc đưa ra lý giải gì cho "đường lưỡi bò" nước này tự vẽ ra?

- Trong phiên họp thứ 5 với chủ đề "Kiểm soát căng thẳng trên Biển Đông", khi bị hỏi về cơ sở pháp lý của "đường lưỡi bò", nữ thiếu tướng Diêu Vân Trúc (Yao Yunzhu) đã phải thừa nhận "đường lưỡi bò" "cũng đang có nhiều tranh luận quyết liệt trong nội bộ Trung Quốc". Cả hội trường khi đó cười ồ lên bởi dù nội bộ chưa thống nhất Trung Quốc đã đem ra công bố để khẳng định chủ quyền.

Tiếp theo, cử tọa hỏi "đường lưỡi bò" khẳng định điều gì? Bà Diêu nói đây là "vùng cảnh báo quân sự". Cử tọa tiếp tục đặt câu hỏi Trung Quốc định nghĩa thế nào về thuật ngữ "vùng cảnh báo quân sự" bởi trên thế giới chưa có, bà Diêu đã không trả lời được. 

Theo quy định, mỗi đoàn chỉ có 5-10 phút để phát biểu. Đoàn Trung Quốc phát biểu cuối cùng, và chiếm thời gian tận tới 35 phút. Tôi cho rằng họ đã có tính toán từ trước, phát biểu cuối và rất dài dòng để tránh bị chất vấn. Đoàn Trung Quốc nói lâu tới mức chủ tọa nhiều lần phải nhắc nhở việc kéo dài thời gian. Nhìn chung năm nào Trung Quốc cũng phát biểu vòng vo, kể lể những điều họ đã làm trong lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc. 

- Ông đánh giá thế nào về bài phát biểu của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh?

- Tôi thấy các nước rất hoan nghênh phát biểu của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh. Thượng tướng đã làm rõ Đối thoại Shangri-la không phải nơi để tranh cãi về chủ quyền, mà là diễn đàn an ninh, ở đó các nước nêu lên vấn đề và cách giải quyết vấn đề. 

Tướng Vịnh cũng chỉ rõ những đòi hỏi chủ quyền quá đáng và chính sách ngoại giao áp đặt của nước lớn đã gây ra căng thẳng Biển Đông, nhấn mạnh xung đột ở Biển Đông sẽ là thảm họa cho cả thế giới. Vì vậy cần phải có sự hợp tác song hành đấu tranh ở khu vực này. Hợp tác để phát huy nghĩa vụ chung theo luật pháp quốc tế và đấu tranh không phải theo kiểu đối đầu mà là giải quyết từng vướng mắc để đi tới đồng thuận.

Khi Tướng Vịnh kết thúc phát biểu, ngồi cạnh chúng tôi, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Jean-Yves Le Drian nói đùa rằng: Ở đây có tôi, tướng Vịnh, Đô đốc Tôn. Nhưng nếu nói về phản ứng sau khi phát biểu thì có lẽ ông Tôn chính là "ngôi sao" khi bị quá nhiều nước chất vấn.

- Theo ông, Việt Nam có thể thấy gì từ  Đối thoại Shangri-la?

- Mục đích của Đối thoại Shangri-la là các nước đến đây để đưa ra sáng kiến của mình, nhằm giải quyết những vấn đề bất đồng, ngăn ngừa xung đột để tạo cho châu Á - Thái Bình Dương một môi trường hoà bình bền vững, chứ không giải quyết bất đồng về tranh chấp. Đoàn Việt Nam chúng ta đến Hội nghị với tinh thần đó. 

Tôi cho rằng tại Đối thoại Shangri-la, Việt Nam nhận được sự ủng hộ của rất nhiều nước. Đoàn Việt Nam đưa thông điệp rõ rằng Việt Nam sẽ không nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền. Chúng ta hợp tác kết hợp đấu tranh trên cơ sở luật pháp quốc tế. 

Trong khi đó, không chỉ có Mỹ mà nhiều nước khác như Anh, Pháp, Ấn Độ, Nhật và các nước trong ASEAN đều lên tiếng phản đối lập luận của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ tự thấy mình bị cô lập. 

 
Phân loại: